Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

Ngân hàng Nhà nước mua vào lượng lớn ngoại tệ


Ngày 22/10, giá USD trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục giảm.

 Theo ghi nhận của tổ chức đầu tư, các ngân hàng chủ yếu bán ra. Diễn biến này khớp với sự nối tiếp mua vào của Ngân hàng Nhà nước.

Cụ thể, trong ngày 22/10, tỷ giá USD/VND tiếp tục giảm nhẹ khoảng 10 điểm so với phiên trước, giao dịch trong khoảng 21.090 - 21.095 VND. Khoảng giao dịch này tiếp tục thấp hơn mức giá chào mua của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (21.100 VND). 

 Lãnh đạo quản lý hoạt động ngoại hối một ngân hàng quốc doanh lớn cho VnEconomy biết, quan sát thị trường liên ngân hàng, dù không liên tục nhưng từ 10/10 đến nayNgân hàng Nhà nước vẫn mua vào khá đều đặn; lượng ngoại tệ mua được khá lớn và bản thân ngân hàng ông cũng bán ròng cho người mua bán sau cùng này một lượng đáng kể.

 Trả lời VnEconomy, một lãnh đạo cao cấp của Ngân hàng Nhà nước cũng thừa nhận diễn biến trên đang thể hiện, nhưng từ chối tiết lộ quy mô mua vào cụ thể hay các thông tin liên quan.
 Tuy nhiên, ông cho biết, dù hoạt động bán ra thể hiện nhưng trạng thái ngoại tệ của hệ thống vẫn đảm bảo dương. Quan điểm của Ngân hàng Nhà nước là chỉ chọn mua ở những thành viên mà việc chuyển đổi không dẫn đến trạng thái âm - có thể gây áp lực cầu trong tương lai.
   
    Như vậy, sau khi gián đoạn từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10 này, hoạt động mua vào gia tăng dự trữ ngoại hối đã được nối lại rõ ràng hơn. Dự trữ ngoại hối có nguồn mới để bù đắp cho hoạt động nhập khẩu vàng dùng cho đấu thầu, cũng như đã từng chi cho việc bình ổn tỷ giá diễn ra cuối tháng 6 và đầu tháng 7/2013.
 Theo báo cáo của Chính phủ tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 ngày 21/10, quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã gia tăng mạnh, từ 6 tuần nhập khẩu vào cuối năm 2010 lên 6,5 tuần .
 Với gợi mở trên, nếu tình theo bình quân tuần nhập khẩu của nền kinh tế trong 9 tháng, thì quy mô dự trữ ngoại hối hiện có thể ở mức 32 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay .
 Theo Thời báo Ngân hàng

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Lạm phát đang giảm tốc độ nhanh


Cụ thể, tháng 8/2013 CPI chỉ tăng 0,6% nếu loại trừ yếu tố tăng giá do dịch vụ y tế, tháng 9/2013 CPI chỉ tăng 0,52% nếu loại trừ yếu tố tăng giá do học phí và tháng 10/2013 CPI chỉ tăng 0,45% nếu loại trừ yếu tố tăng giá do học phí.

Ở một gốc so sánh khác, so cùng kỳ năm trước, CPI cũng đang có xu hướng giảm dần từ mức 7,5% của tháng 8 về mức 6,3% ở tháng 9 và ở mức 5,92% trong tháng 10 này.

Do lạm phát của Việt Nam có quán tính lớn nên mục tiêu lạm phát năm nay khả năng cao sẽ đạt được, thậm chí còn thấp hơn mức 6,5% như kỳ vọng của một số người lạc quan.

Trong tháng này, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức tăng mạnh nhất ở mức 0,86% so với tháng trước trong đó lương thực tăng 0,91%, thực phẩm tăng 1,04% và ăn uống ngoài gia đình tăng 0,25%.

Thời tiết khắc nghiệt là một trong những nguyên nhân gây ra mức tăng mạnh trên.

Cả hai vựa lúa lớn là đồng bắc sông Hồng và đồng bằng sông Cửu long đang bước vào mùa thu hoạch chính nhưng mưa bão, lụt lội trong tháng qua đã ảnh hưởng lớn đến việc thu hoạch khiến nguồn cung lương thực bị ảnh hưởng đẩy giá lên cao hơn tháng trước mặc dù giá xuất khẩu gạo vẫn đang ở mức thấp.

Mưa bão, lụt lội trên diện rộng cũng khiến cho các mặt hàng thực phẩm bị ảnh hưởng nặng nề. Khai thác thủy sản ngưng trệ, rau xanh các loại bị ngập úng, tuyến đường cung cấp thực phẩm liên tỉnh nhất là qua miền Trung bị gián đoạn khiến giá lương thực trong cả nước đều tăng so tháng trước.

Như VnEconomy đã nhiều lần cảnh báo, trong giai đoạn cuối năm 2013, khi mà các yếu tố tăng giá theo quyết định hành chính đã cơ bản hoàn thành, thì giá thực phẩm sẽ là nhân tố tác động mạnh nhất đến chỉ số giá chung cả nước.

Tăng mạnh thứ hai thuộc về nhóm giáo dục với mức tăng 0,53% so với tháng trước. Trong tháng, một số tỉnh vùng Tây Bắc tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí theo quyết định của chính phủ nên đã góp phần đẩy chỉ số chung lên cao.

Theo tính toán, nếu loại trừ yếu tố học phí ra, CPI chung tháng 10 chỉ tăng 0,45% so tháng trước.

Một diễn biến khác cần chú ý là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,5%. Khi các mặt hàng khác diễn biến ổn định thì việc điều chỉnh giá điện bình quân tăng 5% từ tháng 8 đã được thể hiện rõ nét là nhân tố chính đẩy chỉ số giá nhóm này tăng cao.

Ở chiều ngược lại, ngoài nhóm bưu chính viễn thông luôn đóng vai nhóm bình ổn giá khi giảm 0,03% thì nhóm giao thông cũng giảm 0,17% so với tháng trước. Giá xăng dầu được điều chỉnh ngày 7/10/2013 vừa qua là nguyên nhân chính khiến nhóm giao thông tiếp tục giảm.

Các mặt hàng còn lại khác biến động nhẹ không quá 0,35% so tháng trước.

Trong tháng, hai mặt hàng đặc biệt là vàng và đô la Mỹ lần đầu tiên trong năm 2013 cùng giảm ở các mức tương ứng 2,87% và 0,18% so tháng trước.

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Chưa phải thời điểm "buông" thị trường vàng miếng


Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ do Văn phòng Chính phủ tổ chức chiều 26/10, Phó thống đốc Đào Minh Tú cho rằng, sau khi Nghị định 24/2012/NĐ-CP ra đời việc quản lý thị trường vàng miếng trong nước đã hết sức rõ ràng, định hướng đúng đắn và có lợi rất lớn về nhiều mặt cho nền kinh tế.

Chính vì vậy, theo Phó thống đốc Đào Minh Tú, tại thời điểm hiện nay chưa nên để thị trường vàng trong nước trở về ngày xưa, tức là để thị trường tự quyết định.

Trước đó, Nghị định 24/2012/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 3/4/2012 về Quản lý kinh doanh vàng được NHNN thực hiện thời gian qua đã có tác dụng tích cực, cụ thể NHNN đã kiên quyết thực hiện lộ trình nhằm chấm dứt hoạt động huy động, cho vay bằng vàng, qua đó giảm mạnh tâm lý nắm giữ, đầu cơ vàng, ngăn ngừa rủi ro cho các TCTD.

Đồng thời, từ cuối tháng 3/2013 đến nay, NHNN đã triển khai giải pháp can thiệp thông qua hình thức đấu thầu bán vàng miếng nhằm tăng nguồn cung ra thị trường.

Chính nhờ giải pháp này, thị trường vàng miếng trong nước đã diễn biến một cách ổn định hơn, sự mất cân đối về cung cầu vàng trong nước cũng được thu hẹp, loại trừ các tác động tiêu cực của thị trường vàng tới tỷ giá và thị trường ngoại hối.

Tuy nhiên, theo Phó Thống đốc Đào Minh Tú, việc đấu thấu vàng miếng mặc dù đã phát huy tác dụng bình ổn thị trường, nhưng nếu kéo dài có thể gây ra việc bão hòa cho thị trường.

Do vậy, để đánh giá một cách chính xác những phản ứng của thị trường, quan điểm của NHNN là sẽ phải xem tiếp một vài phiên nữa trước khi có những giải pháp mang tính toàn diện hơn.

Tính từ ngày 28/3 đến 25/10, NHNN đã tổ chức 67 phiên đấu thầu bán vàng miếng. Tổng cộng đã có 1.681.500 lượng vàng miếng SJC được bán ra trên tổng số 1.792.000 lượng chào thầu.

Chênh lệch giữa giá vàng SJC trong nước so với thế giới cũng được thụ hẹp, từ mức 6-7 triệu đồng/lượng vào trước thời điểm đấu thầu, đã giảm xuống còn khoảng 3 triệu đồng/lượng vào sáng nay (26/10).

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

Mở đối tượng sử dụng, "siết" phòng ngừa rủi ro


Mở rộng phạm vi, đối tượng được sử dụng

Dự thảo Thông tư được xây dựng trên cơ sở kế thừa các nội dung quy định tại Quyết định số 62/2006/QĐ-NHNN còn phù hợp với Luật Các TCTD năm 2010 và trong thực tế không vướng mắc; đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định cho phù hợp với Luật Các TCTD năm 2010, thông lệ quốc tế và điều kiện thị trường Việt Nam.

Đặc biệt, theo NHNN Việt Nam, Dự thảo Thông tư đã mở rộng phạm vi cung ứng và sử dụng các giao dịch phái sinh lãi suất mà các NHTM đã được phép thực hiện thí điểm, song trên tinh thần đảm bảo an toàn và hạn chế được rủi ro của các NHTM trong quá trình thực hiện, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển thị trường tài chính - ngân hàng trong giai đoạn tới.

Theo đó, so với Quyết định 62, Dự thảo Thông tư không bổ sung đối tượng cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất, nhưng sửa đổi quy định về đối tượng sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất. Theo đó, Dự thảo Thông tư đã thay thế cụm từ doanh nghiệp không phải là ngân hàng được thành lập, hoạt động theo pháp luật Việt Nam trong quy định hiện hành bằng cụm từ pháp nhân (trừ TCTD và chi nhánh NHNNg) được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam để bổ sung các đối tượng như hợp tác xã, Bộ Tài chính... có nhu cầu sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất để bảo hiểm rủi ro cho hoạt động của chính mình.

Dự thảo Thông tư cũng bổ sung một số khái niệm mới như Quyền chọn lãi suất, Hợp đồng gốc, Giá trị khoản vốn gốc, Giá trị khoản vốn danh nghĩa, Trạng thái mở, Giao dịch đối ứng để đảm bảo các thuật ngữ mới trong dự thảo Thông tư được hiểu và áp dụng thống nhất.

Đặc biệt, so với Quyết định 62, Dự thảo Thông tư đã bổ sung thêm sản phẩm quyền chọn lãi suất mà NHNN đã cho phép một số NHTM thực hiện thí điểm. Đồng thời bổ sung các sản phẩm phái sinh lãi suất khác sau khi được Thống đốc NHNN chấp thuận, vì các sản phẩm phái sinh lãi suất rất đa dạng, nên tùy thuộc vào sự phát triển của thị trường tài chính, tiền tệ, tính chất phức tạp của sản phẩm và chủ trương của NHNN trong từng thời kỳ mà NHNN xem xét chấp thuận từng sản phẩm cụ thể.

Các giao dịch phái sinh lãi suất là rất cần thiết đối với hoạt động ngân hàng hiện nay

Siết chặt phòng ngừa rủi ro

Tuy nhiên, Dự thảo Thông tư cũng sửa đổi bổ sung thêm nhiều quy định với mục tiêu đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro cho các NHTM thực hiện sản phẩm phái sinh lãi suất.

Cụ thể, tại Điều 6 quy định về điều kiện đối với NHTM cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất, Dự thảo Thông tư đã bổ sung một số điều kiện đối với các NHTM cung ững sản phẩm phái sinh lãi suất cũng như quy định cụ thể điều kiện đối với từng nhóm khách hàng sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất.

Đặc biệt, Dự thảo Thông tư bổ sung thêm quy định về việc thực hiện giao dịch đối ứng của NHTM. Đây là quy định mới so với Quyết định 62 nhằm tách bạch giữa việc cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất cho khách hàng với việc phòng ngừa rủi ro cho các sản phẩm phái sinh lãi suất mà NHTM đã cung ứng cho khách hàng.

Theo đó, khi cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất cho khách hàng, các NHTM có thể thực hiện giao dịch đối ứng một phần hoặc toàn bộ sản phẩm phái sinh với các NHTM khác trong nước hoặc tổ chức tài chính ở nước ngoài uy tín để hạn chế rủi ro.

Tuy nhiên, tổ chức tài chính ở nước ngoài phải có mức xếp hạng tín nhiệm tối thiểu BBB - của Standard Poors hoặc các mức xếp hạng tương đương của Moodys hoặc Fitchratings. Quy định này nhằm hạn chế rủi ro về đối tác ở nước ngoài khi NHTM thực hiện giao dịch đối ứng ở nước ngoài.

Đáng lưu ý, Dự thảo thông tư quy định rõ (Điều 10): Lãi suất trong hợp đồng thực hiện sản phẩm phái sinh lãi suất do các bên thỏa thuận và cam kết, đảm bảo mức lãi suất mà NHTM trả cho khách hàng phù hợp với quy định của NHNN trong từng thời kỳ.

Theo NHNN, quy định này nhằm tránh trường hợp sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất để lách các quy định của NHNN (quy định về trần lãi suất cho vay, trần lãi suất tiền gửi).

Đặc biệt, các quy định về giới hạn cung ứng và sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất (Điều 12) đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với bản chất rủi ro của sản phẩm và thông lệ quốc tế. Theo đó, mặc dù mức lỗ ròng mà NHTM được phép giữ không thay đổi so với Quyết định 62 (không quá 5%), tuy nhiên có sửa đổi 2 nội dung.

Thứ nhất là phạm vi tính mức lỗ ròng chỉ áp dụng đối với các hợp đồng phái sinh lãi suất mà NHTM đang giữ trạng thái mở âm; không bao gồm các khoản lỗ ròng của các hợp đồng phái sinh lãi suất mà NHTM đã thực hiện đối ứng toàn bộ. Thứ hai, mức lỗ ròng 5% được tính trên cơ sở vốn tự có cấp 1, thay vì vốn tự có theo quy định tại Quyết định 62.

Bên cạnh đó, giới hạn tổng các khoản vốn danh nghĩa của các hợp đồng phái sinh lãi suất đối với một pháp nhân đã được điều chỉnh giảm từ mức 30% vốn tự có theo Quyết định 62 xuống mức 15% vốn tự có cấp 1...

Theo Thời báo Ngân hàng

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

Xử lý nợ xấu có nhiều cải thiện


Xử lý nợ xấu có nhiều cải thiện 


Nhìn lại thời gian vừa qua, các chuyên gia đánh giá Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có nhiều thành công đáng kể, đặc biệt là những dấu ấn trong chính sách với thị trường vàng, USD, ổn định tỷ giá, lạm phát. Nhưng bên cạnh đó, vấn đề nợ xấu, sở hữu chéo vẫn là thách thức lớn đối với ngành ngân hàng, cần có những giải pháp trọng tâm để giải quyết vấn đề này, hướng đến nền tài chính tiền tệ ổn định và bền vững. 

                    
Xử lý nợ xấu có nhiều cải thiện

           Với những nỗ lực của toàn hệ thống ngân hàng trong thời gian vừa qua, mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2015 xuống dưới 3% đã thành hiện thực. Tuy nhiên, việc xử lý nợ xấu trong năm 2016 cũng còn nhiều khó khăn, đòi hỏi những nỗ lực không chỉ riêng của hệ thống ngân hàng…

           Những kết quả đạt được về xử lý nợ xấu trong thời gian vừa qua đã góp phần quan trọng trong việc tái cơ cấu, lành mạnh hóa tài chính của các tổ chức tín dụng, từ đó góp phần khơi thông và thúc đẩy mở rộng tín dụng cho nền kinh tế một cách an toàn, hiệu quả.

           Nợ xấu đã phát sinh từ lâu nhưng bắt đầu được quan tâm đặc biệt từ cuối năm 2011. Giai đoạn 2008 – 2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân là 26,56%, nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu lại ở mức 51%. Nợ xấu tăng nhanh là mối đe dọa đến an ninh hệ thống ngân hàng và ổn định tài chính quốc gia.

           Vì vậy, từ năm 2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải phápnhư củng cố thanh khoản hệ thống ngân hàng, lành mạnh hóa hoạt động tài chính… để tiến đến xử lý nợ xấu toàn diện. Năm 2014, công cuộc xử lý nợ xấu bước đầu mang lại những kết quả ấn tượng nhờ sự nỗ lực của toàn hệ thống và bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Và đến cuối năm 2015, nhiệm vụ xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng đã hoàn thành mục tiêu khi tỷ lệ nợ xấu được kéo mạnh từ mức 17% của năm 2012 về mức 2,72% vào thời điểm 30/11/2015.

           Báo cáo tài chính năm 2015 được công bố của hầu hết các ngân hàng cũng cho thấy những con số đẹp về nợ xấu. Nợ xấu của các ngân hàng đều giảm so với cuối năm 2014, xét về tỷ lệ. Đặc biệt, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng BIDV là 1,62%, MB là 1,6%, ACB là 1,32%, VietinBank là 0,91%, Eximbank là 1,85%, SHB là 1,72%, Techcombank là 1,66%, Vietcombank là 2%, TPBank là 0,4%...

           Số liệu của Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia mới đây cũng cho thấy, chất lượng tín dụng có sự cải thiện trong năm 2015, nợ quá hạn là 179.501 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn là 4,4% (năm 2014 là 5,3%). Nợ xấu là 119.660 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ 2,9% (năm 2014 là 3,7%). Số nợ xấu được giải quyết chủ yếu thông qua bán cho VAMC. Số nợ bán cho VAMC đến năm 2015 là 243.000 tỷ đồng, tăng so với mức 133.000 tỷ đồng của năm 2014.

           Một số đề xuất đối với xử lý nợ xấu trong thời gian tới

           Với nhiều quốc gia nợ xấu của các tổ chức tín dụng cũng là vấn đề của nền kinh tế và để giải quyết tốt số nợ xấu tích tụ trong hệ thống ngân hàng, với nỗ lực riêng của hệ thống ngân hàng là chưa đủ, cần có sự tham gia hỗ trợ tích cực hơn nữa của các bộ, ngành, địa phương và DN. Trước vấn đề này, một số chuyên gia đã có những đề xuất để tháo gỡ khó khăn trong việc xử lý nợ xấu trong thời gian tới.

           Cựu Thống đốc Lê Đức Thúy khuyến cáo, lúc này là lúc cần tỉnh táo, cần cái đầu bớt nóng để cứu nền kinh tế khỏi nợ xấu, để con tàu tăng trưởng thoát khỏi nguy cơ bị chìm.

           Cựu Thống đốc Lê Đức Thúy nhấn mạnh:Nợ xấu không thể tháo gỡ hết ngay lập tức. Tuy nhiên cần bắt tay vào giải quyết nợ xấu một cách thực chất, với một quyết tâm chính trị cao và chấp nhận cái giá thỏa đáng phải trả sẽ cứu được nền kinh tế.

           Theo đó, cần có lộ trình để cho phép phá sản ngân hàng. Thực tế, với các ngân hàng yếu kém như ngân hàng mua 0 đồng, hiện nay NHNN là cơ quan bảo hộ. Vậy thay vì NHNN bảo lãnh cho các ngân hàng này thì có thể chia nhỏ phần nghĩa vụ của các ngân hàng này ra cho một số ngân hàng thương mại lớn khác, NHNN vẫn tiếp tục bảo lãnh số nợ này ở các ngân hàng thương mại lớn đó, và cho phá sản ngân hàng 0 đồng kia.


Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu đề xuất: VAMC cần cải tổ mạnh mẽ, tăng vốn điều lệ. Với vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng, số tài sản phải giải quyết là 250.000 tỷ đồng, tỷ lệ đòn bẩy tài chính của VAMC chỉ đạt 100/1, quá thấp so với một công ty tài chính, ông Nguyễn Trí Hiếu nhận xét. Đồng thời, để có thể xử lý nợ xấu, VAMC phải cùng với NHNN xây dựng ra chợ mua bán nợ xấu. Trong đó, tất cả những nợ xấu đó được đưa lên một cách công khai, để thu hút người mua bán, kể cả nhà đầu tư nước ngoài.


Tuy nhiên, đây không hẳn là việc riêng VAMC hay NHNN có thể làm được. Cần có hệ thống pháp luật gỡ rối cho việc thanh lý tài sản đảm bảo, khi đó nợ xấu sẽ được xử lý nhanh hơn, thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ. Để chợ mua bán nợ tấp nập, cũng cần thu hút thêm sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài.


Bên cạnh những thách thức về tái cơ cấu, nợ xấu, vấn đề thanh tra ngân hàng cũng phải được đặt ra. Trong thời gian qua, đã có hiện tượng một số thanh tra ngân hàng không làm tròn nhiệm vụ, phải chịu xử lý. Vấn đề thanh tra ngân hàng là vô cùng quan trọng, hệ thống ngân hàng có sạch hay không là do khả năng phát hiện của đội ngũ thanh tra, giám sát. Vì vậy, phải chú trọng tăng cường năng lực, nhân sự, đầu tư công nghệ cho đội ngũ thanh tra, chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu đề nghị.

           Tuy nhiên, bàn về nợ xấu, Phó Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Trương Văn Phước cho biết, việc tăng trưởng tín dụng rất cao trong năm 2015 cũng là một điều cần cảnh báo về nguy cơ phát sinh nợ xấu. Năm 2015, số nợ xấu mới phát sinh là 45.000 tỷ đồng. Theo ông Trương Văn Phước thì mặc dù con số này chưa bộc lộ rõ ở thời điểm hiện nay nhưng là nguy cơ tiềm ẩn cho các năm tiếp theo khi tín dụng tiếp tục tăng tạo nguồn thu ngắn hạn.

           
Theo tapchitaichinh.vn


Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Phát triển tín dụng vi mô – Giải pháp đẩy lùi “tín dụng đen” ở Việt Nam


Phát triển tín dụng vi mô – Giải pháp đẩy lùi tín dụng đen ở Việt Nam  

                                     Tín dụng đen là hình thức tín dụng phi chính thức đang tồn tại ở Việt Nam, mang lại nhiều hệ lụy xấu trong xã hội. Mặc dù đã có các quy định trong luật và văn bản dưới luật chi phối song dường như tín dụng đen vẫn chưa được ngăn chặn hiệu quả. Bài viết đề cập đến thực trạng tín dụng đen dưới những biến tướng của hình thức tổ chức họ/hụi, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đẩy lùi những biến tướng của hình thức tín dụng này.

                                                           Thực trạng tín dụng đen ở Việt Nam

           Tín dụng phi chính thức được hiểu là những loại hình tín dụng không đăng ký hoạt động và không chịu sự giám sát của bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh hình thức cho vay nặng lãi, một số hình thức tín dụng phi chính thức khác có các tên gọi khác nhau tùy thuộc văn hóa vùng miền như: Họ (miền Bắc), Hụi (miền Nam), Biêu/Phường (miền Trung). Mặc dù có những quy định trong Bộ luật Dân sự (Điều 471 Bộ luật Dân sự về họ hụi biêu phường), Luật Hình sự (Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 về tội cho vay nặng lãi), Nghị định 144/2006/NĐ-CP về họ, hụi, biêu phường nhưng do không chịu sự kiểm soát trực tiếp của các cơ quan quản lý nên các hình thức tín dụng phi chính thức ngày càng có nhiều biến tướng, gây ra rất nhiều hệ lụy xấu trong xã hội và được gọi là tín dụng đen.

           Theo số liệu được Tổng cục Phòng chống tội phạm (Bộ Công an) công bố tại Hội thảo Giải cứu người nghèo khỏi bẫy tín dụng đen do Trung tâm nghiên cứu truyền thông phát triển (RED) tổ chức tháng 9/2015 tại Hà Nội, từ năm 2010 trở lại đây, có khoảng 49.000 vụ việc liên quan đến tội phạm tín dụng đen được phát hiện. Như vậy, trung bình có 10.000 vụ/năm, mỗi ngày có 29 vụ và mỗi giờ làm việc có 3,6 vụ tín dụng đen được phát hiện tại Việt Nam. Về hậu quả của loại hình tín dụng này, theo số liệu được công bố, từ 2010 - 2014 cả nước xảy ra 6.376 vụ việc tín dụng đen dẫn đến 41 vụ giết người, 318 vụ cố ý gây thương tích, 2.496 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và 1.707 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đó là chưa kể đến các vụ giật hụi xảy ra tại nhiều địa phương trong toàn quốc, nạn nhân lên tới con số hàng ngàn người, số tiền mất mát hàng trăm tỷ đồng, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian gần đây. Rõ ràng, tín dụng đen với những hệ lụy nguy hiểm đang trở thành quốc nạn cần phải được ngăn chặn và đẩy lùi để bảo vệ yên bình cho cuộc sống của người dân và môi trường tài chính lành mạnh trong cả nước.


                       

         
Qua nghiên cứu tình hình thực tế, có thể thấy sở dĩ các hình thức tín dụng đen có cơ hội phát triển lan rộng và để lại nhiều hệ lụy xấu là do các nguyên nhân sau đây:
           

Thứ nhất, xuất phát từ những điểm ưu việt trong chính bản thân các hình thức tín dụng đen đó là: cực kỳ linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu của người vay về thời điểm, về số tiền, kỳ hạn, thời điểm giải ngân kể cả trong những tình huống khẩn cấp nhất. Hơn nữa, khả năng tiếp cận rất dễ dàng, thủ tục giấy tờ đơn giản, không cần tài sản thế chấp. Đây là những ưu điểm mà rất ít loại hình tín dụng do các tổ chức chính thức (ngân hàng, quỹ tín dụng ...) hiện tại đáp ứng được.

           Thứ hai, thực tế tại Việt Nam thời gian qua, những tổ chức tham gia cấp tín dụng cho các đối tượng người nghèo, người có thu nhập thấp như Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân không có sự phân biệt rõ ràng trong phân khúc thị trường. Cụ thể có những khu vực địa bàn trùng lắp đối tượng, nhưng cũng có nơi thị trường bị bỏ ngỏ, nhất là ở những vùng xa, hẻo lánh. Ngoài ra, do thủ tục cho vay khá phức tạp, các điều kiện đưa ra không phải ai cũng đáp ứng được (tài sản bảo đảm, chứng minh nguồn thu nhập, các loại giấy tờ trong hồ sơ vay vốn...), đang tạo cơ hội cho các hình thức tín dụng đen với thuận lợi kể trên có điều kiện phát triển và lan rộng.

           Thứ ba, do nhận thức của người dân nhìn chung chưa cao, kể cả vùng nông thôn lẫn thành thị. Đa phần người dân chưa lường trước được những rủi ro mà họ sẽ phải đương đầu khi tham gia vào các đường dây tín dụng phi chính thức. Cộng thêm những khó khăn/hạn chế khi tiếp cận với các tổ chức tài chính chính thức, nên khi gặp phải biến cố khẩn cấp trong cuộc sống, người dân đã không có những lựa chọn nào khác ngoài việc tìm đến tín dụng đen.


           Thứ tư, do sự kiểm soát lỏng lẻo, kém hiệu quả của các cơ quan quản lý như chính quyền địa phương, các hội bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan công an sở tại, dẫn đến không kịp thời phát hiện và triệt phá được các đường dây tín dụng đen để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương.

           Thứ năm, do luật pháp quy định chưa chặt chẽ, còn có những khoảng trống pháp lý cộng thêm chế tài chưa đủ mạnh nên chưa có tác dụng răn đe và ngăn chặn tín dụng đen phát triển.

           Giải pháp đẩy lùi tín dụng đen

           Từ thực trạng tín dụng đen thời gian qua, cần thiết phải đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả và khả năng phổ cập của hệ thống tài chính quốc gia. Rõ ràng là các tổ chức tài chính Việt Nam đã chưa thể đảm đương được vai trò cung cấp vốn cho nhu cầu của xã hội. Điều này cũng được chứng minh trong báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015-2016, một trong các lĩnh vực mà Việt Nam được đánh giá thấp là phát triển thị trường tài chính, xếp hạng 84/140 nền kinh tế trong toàn cầu (Vương Đình Huệ, 2016). Cũng theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), số người trưởng thành ở Việt Nam có tài khoản và sử dụng dịch vụ tài chính tại Việt Nam còn quá thấp, chiếm khoảng 31% năm 2013, trong khi trung bình thế giới là 62%. Riêng tỷ lệ dân cư vay vốn tại các tổ chức tín dụng chính thức thấp hơn, chỉ khoảng 18%. Trên cơ sở kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, để đẩy lùi tình trạng tín dụng đen tại Việt Nam, tác giả đề xuất hai giải pháp chính:

           Một là, thực hiện chiến lược phổ cập tài chính quốc gia trong thời gian tới.

           Mục tiêu của chiến lược phổ cập tài chính quốc gia là giáo dục kiến thức tài chính cho người dân từ chỗ biết (knowing) đến hiểu (understanding) tiến tới thay đổi hành vi (changing behavior) sử dụng các dịch vụ sản phẩm tài chính trên thị trường chính thức. Phổ cập tài chính là biện pháp hàng đầu trong việc đẩy lùi tín dụng đen. Theo kết quả khảo sát thực hiện tại vùng Tây Nam bộ trong năm 2013, trong số những người tham gia vào các hoạt động tín dụng phi chính thức như họ/hụi, có tới 62,1% là nông dân và người mua bán nhỏ, trình độ học vấn trung bình ở mức trung học cơ sở (lớp 9), số người là cán bộ viên chức, có trình độ tốt nghiệp phổ thông trung học rất ít (Lê Khương Ninh, 2013). Các nghiên cứu gần đây tại các nước đang phát triển cũng chỉ ra rằng người dân càng có mức độ hiểu biết tài chính thấp thì càng có xu hướng tìm đến các hình thức tín dụng phi chính thức nhiều hơn. Do vậy, tại nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn độ, Nga, Bangladesh, Indonesia, Mexico... Chính phủ đều đã xúc tiến thực hiện chiến lược phổ cập tài chính quốc gia, thông qua đó giáo dục kiến thức về tài chính cho dân chúng (WB, 2013). Nếu người dân có hiểu biết tài chính họ sẽ ý thức được những rủi ro mà họ sẽ phải đối mặt khi tham gia vào các hình thức tín dụng phi chính thức, trên cơ sở đó biết lựa chọn sản phẩm dịch vụ thích hợp, bảo vệ quyền lợi cho bản thân và gia đình.

           Chiến lược phổ cập tài chính quốc gia phải do Chính phủ khởi xướng, nhưng để chiến lược này đi vào thực tế, đòi hỏi phải có sự tham gia phối hợp đồng bộ của nhiều chủ thể, thông qua nhiều cách thức đa dạng. Các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, sách báo, tạp chí cần đẩy mạnh tuyên truyền phổ cập kiến thức tài chính căn bản cho người dân. Có thể thiết kế các chuyên đề nói chuyện, hội thảo thích hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau. Đối với các tổ chức tài chính cần đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu sản phẩm dịch vụ tài chính tới người dân bằng nhiều kênh đa dạng, phải cho dân biết lợi ích thì mới khuyến khích họ tham gia vào thị trường tài chính chính thức. Các chính quyền, tổ chức đoàn thể, xã hội tại địa phương cần phải mở lớp hướng dẫn tư vấn về các kiến thức tài chính như thiết lập ngân sách cá nhân/gia đình, quản lý dòng tiền vào/ra, cách lập và chi tiêu theo kế hoạch... Các hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần tuyên truyền, phân tích lợi/hại để người dân có ý thức tự bảo vệ, không tham gia vào các hình thức tín dụng phi chính thức tiềm ẩn nhiều rủi ro.

           Hai là, phát triển sâu rộng tín dụng vi mô trên cơ sở tổ chức lại và hợp thức hóa hoạt động họ/hụi tại các địa phương trong toàn quốc.

           Biện pháp căn cơ nhất để đẩy lùi nạn tín dụng đen là đẩy mạnh tín dụng vi mô, loại hình tín dụng thích hợp với người nghèo, người có thu nhập thấp. Với tỷ lệ trên 70% dân số sống tại các vùng nông thôn Việt Nam, có thể thấy thị trường tín dụng cho các tổ chức tài chính vi mô thâm nhập là rất rộng lớn. Thời gian qua, ngân hàng chính sách xã hội, quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô cùng tham gia cung cấp tín dụng cho thị trường nông thôn. Tuy nhiên, có sự khác biệt về đối tượng, hình thức, quy mô, điều kiện cấp tín dụng, nguồn hình thành quỹ giữa các tổ chức này. Quan sát trên bảng so sánh, nhận thấy với các đặc điểm riêng có, rõ ràng tín dụng vi mô có tính phổ cập cao hơn, dễ tiếp cận hơn so với các hình thức tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ tín dụng nhân dân. Do vậy, tín dụng vi mô là phương tiện hữu hiệu nhất để cho đại bộ phận người dân ở các vùng nông thôn, hẻo lánh có thể tiếp cận được với khu vực tín dụng chính thức và bán chính thức.

           Để đẩy lùi nạn tín dụng đen biến tướng từ họ/hụi, cần phát triển tín dụng vi mô trên cơ sở hợp thức hóa các hoạt động họ/hụi đang tồn tại ở các địa phương trong toàn quốc. Cơ sở pháp lý cho đề xuất này là do pháp luật đã công nhận sự tồn tại hợp pháp của họ/hụi trong Bộ luật Dân sự và Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, để áp dụng trong thực tiễn, cần cụ thể hóa các điều luật này bằng các văn bản dưới luật thông qua việc chính thức cho phép đường dây họ/hụi đăng ký hoạt động tại địa bàn cụ thể theo các quy định của pháp luật.

           Đồng thời, để dễ dàng kiểm soát, các đường dây họ/hụi nên được tổ chức thành các vệ tinh/đại lý của tổ chức tài chính vi mô địa phương. Làm như vậy một mặt tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vi mô tận dụng mạng lưới khách hàng sẵn có, giải quyết bài toán hạn hẹp về nguồn quỹ hoạt động, mặt khác đưa các hoạt động họ/hụi đang tồn tại ở địa phương vào khuôn khổ, tránh các biến tướng xấu như trong thời gian qua. Khó khăn lớn nhất là lâu nay các đường dây này hoạt động tự do, không chịu bất kỳ sự kiểm soát nào, nên không dễ dàng chấp nhận làm vệ tinh của tổ chức tài chính vi mô.

           Vì vậy, cần tăng cường tuyên truyền cho người dân đang tham gia vào các đường dây này hiểu rằng Nhà nước công nhận sự tồn tại hợp pháp của họ/hụi nhưng phải tuân thủ quy định pháp luật, để tránh rủi ro, tự bảo vệ quyền lợi của bản thân. Bên cạnh đó, vận động các chủ hụi tự nguyện tham gia với vai trò thành viên hoặc cộng tác viên cho tổ chức tài chính vi mô địa phương. Tổ chức tài chính vi mô địa phương cần nghiên cứu kỹ các hình thức tổ chức họ/hụi quy định trong Nghị định 144/2006/NĐ-CP, kết hợp với tìm hiểu cách thức tổ chức các loại họ/hụi trong thực tế địa phương để vận dụng cho thích hợp. Trong đó, cần quan tâm đến lãi suất vì đây là yếu tố chính thu hút người dân tham gia. Lãi suất cần áp dụng theo mức cao nhất cho phép trong luật là 20%/năm (Điều 468 Bộ luật dân sự 91/2015/QH13), xóa bỏ quan niệm lãi suất trong tín dụng vi mô thường thấp do mang ý nghĩa tài trợ của Nhà nước.


Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay


Theo Nghị quyết, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương kiên định thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô để có nền tảng tăng trưởng cao trong dài hạn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống, chất lượng sống cho người dân, quyết tâm phấn đấu đạt tăng trưởng GDP khoảng 6,7% và kiểm soát lạm phát dưới 5%.


Đồng thời, tích cực thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/1/2016, các Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ từ đầu năm đến nay và Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020.


Các Bộ, ngành, địa phương tích cực khai thác thế mạnh, tiềm năng của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa bàn, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển; tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế và các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực trọng tâm...


Với NHNN Việt Nam, Chính phủ yêu cầu theo dõi sát diễn biến thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và quốc tế, điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay.


Đồng thời tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là nông nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khoa học công nghệ... gắn với nâng cao chất lượng tín dụng.


Bên cạnh đó, đánh giá tình hình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu giai đoạn 2011 - 2015; xây dựng Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020, trong đó chú trọng đẩy mạnh xử lý thực chất nợ xấu qua Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).


Chính phủ cũng yêu cầu rà soát, sửa đổi Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phù hợp với điều kiện thực tế.


Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.