Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Lạm phát đang giảm tốc độ nhanh


Cụ thể, tháng 8/2013 CPI chỉ tăng 0,6% nếu loại trừ yếu tố tăng giá do dịch vụ y tế, tháng 9/2013 CPI chỉ tăng 0,52% nếu loại trừ yếu tố tăng giá do học phí và tháng 10/2013 CPI chỉ tăng 0,45% nếu loại trừ yếu tố tăng giá do học phí.

Ở một gốc so sánh khác, so cùng kỳ năm trước, CPI cũng đang có xu hướng giảm dần từ mức 7,5% của tháng 8 về mức 6,3% ở tháng 9 và ở mức 5,92% trong tháng 10 này.

Do lạm phát của Việt Nam có quán tính lớn nên mục tiêu lạm phát năm nay khả năng cao sẽ đạt được, thậm chí còn thấp hơn mức 6,5% như kỳ vọng của một số người lạc quan.

Trong tháng này, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức tăng mạnh nhất ở mức 0,86% so với tháng trước trong đó lương thực tăng 0,91%, thực phẩm tăng 1,04% và ăn uống ngoài gia đình tăng 0,25%.

Thời tiết khắc nghiệt là một trong những nguyên nhân gây ra mức tăng mạnh trên.

Cả hai vựa lúa lớn là đồng bắc sông Hồng và đồng bằng sông Cửu long đang bước vào mùa thu hoạch chính nhưng mưa bão, lụt lội trong tháng qua đã ảnh hưởng lớn đến việc thu hoạch khiến nguồn cung lương thực bị ảnh hưởng đẩy giá lên cao hơn tháng trước mặc dù giá xuất khẩu gạo vẫn đang ở mức thấp.

Mưa bão, lụt lội trên diện rộng cũng khiến cho các mặt hàng thực phẩm bị ảnh hưởng nặng nề. Khai thác thủy sản ngưng trệ, rau xanh các loại bị ngập úng, tuyến đường cung cấp thực phẩm liên tỉnh nhất là qua miền Trung bị gián đoạn khiến giá lương thực trong cả nước đều tăng so tháng trước.

Như VnEconomy đã nhiều lần cảnh báo, trong giai đoạn cuối năm 2013, khi mà các yếu tố tăng giá theo quyết định hành chính đã cơ bản hoàn thành, thì giá thực phẩm sẽ là nhân tố tác động mạnh nhất đến chỉ số giá chung cả nước.

Tăng mạnh thứ hai thuộc về nhóm giáo dục với mức tăng 0,53% so với tháng trước. Trong tháng, một số tỉnh vùng Tây Bắc tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí theo quyết định của chính phủ nên đã góp phần đẩy chỉ số chung lên cao.

Theo tính toán, nếu loại trừ yếu tố học phí ra, CPI chung tháng 10 chỉ tăng 0,45% so tháng trước.

Một diễn biến khác cần chú ý là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,5%. Khi các mặt hàng khác diễn biến ổn định thì việc điều chỉnh giá điện bình quân tăng 5% từ tháng 8 đã được thể hiện rõ nét là nhân tố chính đẩy chỉ số giá nhóm này tăng cao.

Ở chiều ngược lại, ngoài nhóm bưu chính viễn thông luôn đóng vai nhóm bình ổn giá khi giảm 0,03% thì nhóm giao thông cũng giảm 0,17% so với tháng trước. Giá xăng dầu được điều chỉnh ngày 7/10/2013 vừa qua là nguyên nhân chính khiến nhóm giao thông tiếp tục giảm.

Các mặt hàng còn lại khác biến động nhẹ không quá 0,35% so tháng trước.

Trong tháng, hai mặt hàng đặc biệt là vàng và đô la Mỹ lần đầu tiên trong năm 2013 cùng giảm ở các mức tương ứng 2,87% và 0,18% so tháng trước.

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Chưa phải thời điểm "buông" thị trường vàng miếng


Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ do Văn phòng Chính phủ tổ chức chiều 26/10, Phó thống đốc Đào Minh Tú cho rằng, sau khi Nghị định 24/2012/NĐ-CP ra đời việc quản lý thị trường vàng miếng trong nước đã hết sức rõ ràng, định hướng đúng đắn và có lợi rất lớn về nhiều mặt cho nền kinh tế.

Chính vì vậy, theo Phó thống đốc Đào Minh Tú, tại thời điểm hiện nay chưa nên để thị trường vàng trong nước trở về ngày xưa, tức là để thị trường tự quyết định.

Trước đó, Nghị định 24/2012/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 3/4/2012 về Quản lý kinh doanh vàng được NHNN thực hiện thời gian qua đã có tác dụng tích cực, cụ thể NHNN đã kiên quyết thực hiện lộ trình nhằm chấm dứt hoạt động huy động, cho vay bằng vàng, qua đó giảm mạnh tâm lý nắm giữ, đầu cơ vàng, ngăn ngừa rủi ro cho các TCTD.

Đồng thời, từ cuối tháng 3/2013 đến nay, NHNN đã triển khai giải pháp can thiệp thông qua hình thức đấu thầu bán vàng miếng nhằm tăng nguồn cung ra thị trường.

Chính nhờ giải pháp này, thị trường vàng miếng trong nước đã diễn biến một cách ổn định hơn, sự mất cân đối về cung cầu vàng trong nước cũng được thu hẹp, loại trừ các tác động tiêu cực của thị trường vàng tới tỷ giá và thị trường ngoại hối.

Tuy nhiên, theo Phó Thống đốc Đào Minh Tú, việc đấu thấu vàng miếng mặc dù đã phát huy tác dụng bình ổn thị trường, nhưng nếu kéo dài có thể gây ra việc bão hòa cho thị trường.

Do vậy, để đánh giá một cách chính xác những phản ứng của thị trường, quan điểm của NHNN là sẽ phải xem tiếp một vài phiên nữa trước khi có những giải pháp mang tính toàn diện hơn.

Tính từ ngày 28/3 đến 25/10, NHNN đã tổ chức 67 phiên đấu thầu bán vàng miếng. Tổng cộng đã có 1.681.500 lượng vàng miếng SJC được bán ra trên tổng số 1.792.000 lượng chào thầu.

Chênh lệch giữa giá vàng SJC trong nước so với thế giới cũng được thụ hẹp, từ mức 6-7 triệu đồng/lượng vào trước thời điểm đấu thầu, đã giảm xuống còn khoảng 3 triệu đồng/lượng vào sáng nay (26/10).

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2016

Mở đối tượng sử dụng, "siết" phòng ngừa rủi ro


Mở rộng phạm vi, đối tượng được sử dụng

Dự thảo Thông tư được xây dựng trên cơ sở kế thừa các nội dung quy định tại Quyết định số 62/2006/QĐ-NHNN còn phù hợp với Luật Các TCTD năm 2010 và trong thực tế không vướng mắc; đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định cho phù hợp với Luật Các TCTD năm 2010, thông lệ quốc tế và điều kiện thị trường Việt Nam.

Đặc biệt, theo NHNN Việt Nam, Dự thảo Thông tư đã mở rộng phạm vi cung ứng và sử dụng các giao dịch phái sinh lãi suất mà các NHTM đã được phép thực hiện thí điểm, song trên tinh thần đảm bảo an toàn và hạn chế được rủi ro của các NHTM trong quá trình thực hiện, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển thị trường tài chính - ngân hàng trong giai đoạn tới.

Theo đó, so với Quyết định 62, Dự thảo Thông tư không bổ sung đối tượng cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất, nhưng sửa đổi quy định về đối tượng sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất. Theo đó, Dự thảo Thông tư đã thay thế cụm từ doanh nghiệp không phải là ngân hàng được thành lập, hoạt động theo pháp luật Việt Nam trong quy định hiện hành bằng cụm từ pháp nhân (trừ TCTD và chi nhánh NHNNg) được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam để bổ sung các đối tượng như hợp tác xã, Bộ Tài chính... có nhu cầu sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất để bảo hiểm rủi ro cho hoạt động của chính mình.

Dự thảo Thông tư cũng bổ sung một số khái niệm mới như Quyền chọn lãi suất, Hợp đồng gốc, Giá trị khoản vốn gốc, Giá trị khoản vốn danh nghĩa, Trạng thái mở, Giao dịch đối ứng để đảm bảo các thuật ngữ mới trong dự thảo Thông tư được hiểu và áp dụng thống nhất.

Đặc biệt, so với Quyết định 62, Dự thảo Thông tư đã bổ sung thêm sản phẩm quyền chọn lãi suất mà NHNN đã cho phép một số NHTM thực hiện thí điểm. Đồng thời bổ sung các sản phẩm phái sinh lãi suất khác sau khi được Thống đốc NHNN chấp thuận, vì các sản phẩm phái sinh lãi suất rất đa dạng, nên tùy thuộc vào sự phát triển của thị trường tài chính, tiền tệ, tính chất phức tạp của sản phẩm và chủ trương của NHNN trong từng thời kỳ mà NHNN xem xét chấp thuận từng sản phẩm cụ thể.

Các giao dịch phái sinh lãi suất là rất cần thiết đối với hoạt động ngân hàng hiện nay

Siết chặt phòng ngừa rủi ro

Tuy nhiên, Dự thảo Thông tư cũng sửa đổi bổ sung thêm nhiều quy định với mục tiêu đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro cho các NHTM thực hiện sản phẩm phái sinh lãi suất.

Cụ thể, tại Điều 6 quy định về điều kiện đối với NHTM cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất, Dự thảo Thông tư đã bổ sung một số điều kiện đối với các NHTM cung ững sản phẩm phái sinh lãi suất cũng như quy định cụ thể điều kiện đối với từng nhóm khách hàng sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất.

Đặc biệt, Dự thảo Thông tư bổ sung thêm quy định về việc thực hiện giao dịch đối ứng của NHTM. Đây là quy định mới so với Quyết định 62 nhằm tách bạch giữa việc cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất cho khách hàng với việc phòng ngừa rủi ro cho các sản phẩm phái sinh lãi suất mà NHTM đã cung ứng cho khách hàng.

Theo đó, khi cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất cho khách hàng, các NHTM có thể thực hiện giao dịch đối ứng một phần hoặc toàn bộ sản phẩm phái sinh với các NHTM khác trong nước hoặc tổ chức tài chính ở nước ngoài uy tín để hạn chế rủi ro.

Tuy nhiên, tổ chức tài chính ở nước ngoài phải có mức xếp hạng tín nhiệm tối thiểu BBB - của Standard Poors hoặc các mức xếp hạng tương đương của Moodys hoặc Fitchratings. Quy định này nhằm hạn chế rủi ro về đối tác ở nước ngoài khi NHTM thực hiện giao dịch đối ứng ở nước ngoài.

Đáng lưu ý, Dự thảo thông tư quy định rõ (Điều 10): Lãi suất trong hợp đồng thực hiện sản phẩm phái sinh lãi suất do các bên thỏa thuận và cam kết, đảm bảo mức lãi suất mà NHTM trả cho khách hàng phù hợp với quy định của NHNN trong từng thời kỳ.

Theo NHNN, quy định này nhằm tránh trường hợp sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất để lách các quy định của NHNN (quy định về trần lãi suất cho vay, trần lãi suất tiền gửi).

Đặc biệt, các quy định về giới hạn cung ứng và sử dụng sản phẩm phái sinh lãi suất (Điều 12) đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với bản chất rủi ro của sản phẩm và thông lệ quốc tế. Theo đó, mặc dù mức lỗ ròng mà NHTM được phép giữ không thay đổi so với Quyết định 62 (không quá 5%), tuy nhiên có sửa đổi 2 nội dung.

Thứ nhất là phạm vi tính mức lỗ ròng chỉ áp dụng đối với các hợp đồng phái sinh lãi suất mà NHTM đang giữ trạng thái mở âm; không bao gồm các khoản lỗ ròng của các hợp đồng phái sinh lãi suất mà NHTM đã thực hiện đối ứng toàn bộ. Thứ hai, mức lỗ ròng 5% được tính trên cơ sở vốn tự có cấp 1, thay vì vốn tự có theo quy định tại Quyết định 62.

Bên cạnh đó, giới hạn tổng các khoản vốn danh nghĩa của các hợp đồng phái sinh lãi suất đối với một pháp nhân đã được điều chỉnh giảm từ mức 30% vốn tự có theo Quyết định 62 xuống mức 15% vốn tự có cấp 1...

Theo Thời báo Ngân hàng

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

Xử lý nợ xấu có nhiều cải thiện


Xử lý nợ xấu có nhiều cải thiện 


Nhìn lại thời gian vừa qua, các chuyên gia đánh giá Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có nhiều thành công đáng kể, đặc biệt là những dấu ấn trong chính sách với thị trường vàng, USD, ổn định tỷ giá, lạm phát. Nhưng bên cạnh đó, vấn đề nợ xấu, sở hữu chéo vẫn là thách thức lớn đối với ngành ngân hàng, cần có những giải pháp trọng tâm để giải quyết vấn đề này, hướng đến nền tài chính tiền tệ ổn định và bền vững. 

                    
Xử lý nợ xấu có nhiều cải thiện

           Với những nỗ lực của toàn hệ thống ngân hàng trong thời gian vừa qua, mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2015 xuống dưới 3% đã thành hiện thực. Tuy nhiên, việc xử lý nợ xấu trong năm 2016 cũng còn nhiều khó khăn, đòi hỏi những nỗ lực không chỉ riêng của hệ thống ngân hàng…

           Những kết quả đạt được về xử lý nợ xấu trong thời gian vừa qua đã góp phần quan trọng trong việc tái cơ cấu, lành mạnh hóa tài chính của các tổ chức tín dụng, từ đó góp phần khơi thông và thúc đẩy mở rộng tín dụng cho nền kinh tế một cách an toàn, hiệu quả.

           Nợ xấu đã phát sinh từ lâu nhưng bắt đầu được quan tâm đặc biệt từ cuối năm 2011. Giai đoạn 2008 – 2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân là 26,56%, nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu lại ở mức 51%. Nợ xấu tăng nhanh là mối đe dọa đến an ninh hệ thống ngân hàng và ổn định tài chính quốc gia.

           Vì vậy, từ năm 2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải phápnhư củng cố thanh khoản hệ thống ngân hàng, lành mạnh hóa hoạt động tài chính… để tiến đến xử lý nợ xấu toàn diện. Năm 2014, công cuộc xử lý nợ xấu bước đầu mang lại những kết quả ấn tượng nhờ sự nỗ lực của toàn hệ thống và bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Và đến cuối năm 2015, nhiệm vụ xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng đã hoàn thành mục tiêu khi tỷ lệ nợ xấu được kéo mạnh từ mức 17% của năm 2012 về mức 2,72% vào thời điểm 30/11/2015.

           Báo cáo tài chính năm 2015 được công bố của hầu hết các ngân hàng cũng cho thấy những con số đẹp về nợ xấu. Nợ xấu của các ngân hàng đều giảm so với cuối năm 2014, xét về tỷ lệ. Đặc biệt, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng BIDV là 1,62%, MB là 1,6%, ACB là 1,32%, VietinBank là 0,91%, Eximbank là 1,85%, SHB là 1,72%, Techcombank là 1,66%, Vietcombank là 2%, TPBank là 0,4%...

           Số liệu của Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia mới đây cũng cho thấy, chất lượng tín dụng có sự cải thiện trong năm 2015, nợ quá hạn là 179.501 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn là 4,4% (năm 2014 là 5,3%). Nợ xấu là 119.660 tỷ đồng, tương đương tỷ lệ 2,9% (năm 2014 là 3,7%). Số nợ xấu được giải quyết chủ yếu thông qua bán cho VAMC. Số nợ bán cho VAMC đến năm 2015 là 243.000 tỷ đồng, tăng so với mức 133.000 tỷ đồng của năm 2014.

           Một số đề xuất đối với xử lý nợ xấu trong thời gian tới

           Với nhiều quốc gia nợ xấu của các tổ chức tín dụng cũng là vấn đề của nền kinh tế và để giải quyết tốt số nợ xấu tích tụ trong hệ thống ngân hàng, với nỗ lực riêng của hệ thống ngân hàng là chưa đủ, cần có sự tham gia hỗ trợ tích cực hơn nữa của các bộ, ngành, địa phương và DN. Trước vấn đề này, một số chuyên gia đã có những đề xuất để tháo gỡ khó khăn trong việc xử lý nợ xấu trong thời gian tới.

           Cựu Thống đốc Lê Đức Thúy khuyến cáo, lúc này là lúc cần tỉnh táo, cần cái đầu bớt nóng để cứu nền kinh tế khỏi nợ xấu, để con tàu tăng trưởng thoát khỏi nguy cơ bị chìm.

           Cựu Thống đốc Lê Đức Thúy nhấn mạnh:Nợ xấu không thể tháo gỡ hết ngay lập tức. Tuy nhiên cần bắt tay vào giải quyết nợ xấu một cách thực chất, với một quyết tâm chính trị cao và chấp nhận cái giá thỏa đáng phải trả sẽ cứu được nền kinh tế.

           Theo đó, cần có lộ trình để cho phép phá sản ngân hàng. Thực tế, với các ngân hàng yếu kém như ngân hàng mua 0 đồng, hiện nay NHNN là cơ quan bảo hộ. Vậy thay vì NHNN bảo lãnh cho các ngân hàng này thì có thể chia nhỏ phần nghĩa vụ của các ngân hàng này ra cho một số ngân hàng thương mại lớn khác, NHNN vẫn tiếp tục bảo lãnh số nợ này ở các ngân hàng thương mại lớn đó, và cho phá sản ngân hàng 0 đồng kia.


Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu đề xuất: VAMC cần cải tổ mạnh mẽ, tăng vốn điều lệ. Với vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng, số tài sản phải giải quyết là 250.000 tỷ đồng, tỷ lệ đòn bẩy tài chính của VAMC chỉ đạt 100/1, quá thấp so với một công ty tài chính, ông Nguyễn Trí Hiếu nhận xét. Đồng thời, để có thể xử lý nợ xấu, VAMC phải cùng với NHNN xây dựng ra chợ mua bán nợ xấu. Trong đó, tất cả những nợ xấu đó được đưa lên một cách công khai, để thu hút người mua bán, kể cả nhà đầu tư nước ngoài.


Tuy nhiên, đây không hẳn là việc riêng VAMC hay NHNN có thể làm được. Cần có hệ thống pháp luật gỡ rối cho việc thanh lý tài sản đảm bảo, khi đó nợ xấu sẽ được xử lý nhanh hơn, thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ. Để chợ mua bán nợ tấp nập, cũng cần thu hút thêm sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài.


Bên cạnh những thách thức về tái cơ cấu, nợ xấu, vấn đề thanh tra ngân hàng cũng phải được đặt ra. Trong thời gian qua, đã có hiện tượng một số thanh tra ngân hàng không làm tròn nhiệm vụ, phải chịu xử lý. Vấn đề thanh tra ngân hàng là vô cùng quan trọng, hệ thống ngân hàng có sạch hay không là do khả năng phát hiện của đội ngũ thanh tra, giám sát. Vì vậy, phải chú trọng tăng cường năng lực, nhân sự, đầu tư công nghệ cho đội ngũ thanh tra, chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu đề nghị.

           Tuy nhiên, bàn về nợ xấu, Phó Chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Trương Văn Phước cho biết, việc tăng trưởng tín dụng rất cao trong năm 2015 cũng là một điều cần cảnh báo về nguy cơ phát sinh nợ xấu. Năm 2015, số nợ xấu mới phát sinh là 45.000 tỷ đồng. Theo ông Trương Văn Phước thì mặc dù con số này chưa bộc lộ rõ ở thời điểm hiện nay nhưng là nguy cơ tiềm ẩn cho các năm tiếp theo khi tín dụng tiếp tục tăng tạo nguồn thu ngắn hạn.

           
Theo tapchitaichinh.vn


Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Phát triển tín dụng vi mô – Giải pháp đẩy lùi “tín dụng đen” ở Việt Nam


Phát triển tín dụng vi mô – Giải pháp đẩy lùi tín dụng đen ở Việt Nam  

                                     Tín dụng đen là hình thức tín dụng phi chính thức đang tồn tại ở Việt Nam, mang lại nhiều hệ lụy xấu trong xã hội. Mặc dù đã có các quy định trong luật và văn bản dưới luật chi phối song dường như tín dụng đen vẫn chưa được ngăn chặn hiệu quả. Bài viết đề cập đến thực trạng tín dụng đen dưới những biến tướng của hình thức tổ chức họ/hụi, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đẩy lùi những biến tướng của hình thức tín dụng này.

                                                           Thực trạng tín dụng đen ở Việt Nam

           Tín dụng phi chính thức được hiểu là những loại hình tín dụng không đăng ký hoạt động và không chịu sự giám sát của bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh hình thức cho vay nặng lãi, một số hình thức tín dụng phi chính thức khác có các tên gọi khác nhau tùy thuộc văn hóa vùng miền như: Họ (miền Bắc), Hụi (miền Nam), Biêu/Phường (miền Trung). Mặc dù có những quy định trong Bộ luật Dân sự (Điều 471 Bộ luật Dân sự về họ hụi biêu phường), Luật Hình sự (Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 về tội cho vay nặng lãi), Nghị định 144/2006/NĐ-CP về họ, hụi, biêu phường nhưng do không chịu sự kiểm soát trực tiếp của các cơ quan quản lý nên các hình thức tín dụng phi chính thức ngày càng có nhiều biến tướng, gây ra rất nhiều hệ lụy xấu trong xã hội và được gọi là tín dụng đen.

           Theo số liệu được Tổng cục Phòng chống tội phạm (Bộ Công an) công bố tại Hội thảo Giải cứu người nghèo khỏi bẫy tín dụng đen do Trung tâm nghiên cứu truyền thông phát triển (RED) tổ chức tháng 9/2015 tại Hà Nội, từ năm 2010 trở lại đây, có khoảng 49.000 vụ việc liên quan đến tội phạm tín dụng đen được phát hiện. Như vậy, trung bình có 10.000 vụ/năm, mỗi ngày có 29 vụ và mỗi giờ làm việc có 3,6 vụ tín dụng đen được phát hiện tại Việt Nam. Về hậu quả của loại hình tín dụng này, theo số liệu được công bố, từ 2010 - 2014 cả nước xảy ra 6.376 vụ việc tín dụng đen dẫn đến 41 vụ giết người, 318 vụ cố ý gây thương tích, 2.496 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và 1.707 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đó là chưa kể đến các vụ giật hụi xảy ra tại nhiều địa phương trong toàn quốc, nạn nhân lên tới con số hàng ngàn người, số tiền mất mát hàng trăm tỷ đồng, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian gần đây. Rõ ràng, tín dụng đen với những hệ lụy nguy hiểm đang trở thành quốc nạn cần phải được ngăn chặn và đẩy lùi để bảo vệ yên bình cho cuộc sống của người dân và môi trường tài chính lành mạnh trong cả nước.


                       

         
Qua nghiên cứu tình hình thực tế, có thể thấy sở dĩ các hình thức tín dụng đen có cơ hội phát triển lan rộng và để lại nhiều hệ lụy xấu là do các nguyên nhân sau đây:
           

Thứ nhất, xuất phát từ những điểm ưu việt trong chính bản thân các hình thức tín dụng đen đó là: cực kỳ linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu của người vay về thời điểm, về số tiền, kỳ hạn, thời điểm giải ngân kể cả trong những tình huống khẩn cấp nhất. Hơn nữa, khả năng tiếp cận rất dễ dàng, thủ tục giấy tờ đơn giản, không cần tài sản thế chấp. Đây là những ưu điểm mà rất ít loại hình tín dụng do các tổ chức chính thức (ngân hàng, quỹ tín dụng ...) hiện tại đáp ứng được.

           Thứ hai, thực tế tại Việt Nam thời gian qua, những tổ chức tham gia cấp tín dụng cho các đối tượng người nghèo, người có thu nhập thấp như Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân không có sự phân biệt rõ ràng trong phân khúc thị trường. Cụ thể có những khu vực địa bàn trùng lắp đối tượng, nhưng cũng có nơi thị trường bị bỏ ngỏ, nhất là ở những vùng xa, hẻo lánh. Ngoài ra, do thủ tục cho vay khá phức tạp, các điều kiện đưa ra không phải ai cũng đáp ứng được (tài sản bảo đảm, chứng minh nguồn thu nhập, các loại giấy tờ trong hồ sơ vay vốn...), đang tạo cơ hội cho các hình thức tín dụng đen với thuận lợi kể trên có điều kiện phát triển và lan rộng.

           Thứ ba, do nhận thức của người dân nhìn chung chưa cao, kể cả vùng nông thôn lẫn thành thị. Đa phần người dân chưa lường trước được những rủi ro mà họ sẽ phải đương đầu khi tham gia vào các đường dây tín dụng phi chính thức. Cộng thêm những khó khăn/hạn chế khi tiếp cận với các tổ chức tài chính chính thức, nên khi gặp phải biến cố khẩn cấp trong cuộc sống, người dân đã không có những lựa chọn nào khác ngoài việc tìm đến tín dụng đen.


           Thứ tư, do sự kiểm soát lỏng lẻo, kém hiệu quả của các cơ quan quản lý như chính quyền địa phương, các hội bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan công an sở tại, dẫn đến không kịp thời phát hiện và triệt phá được các đường dây tín dụng đen để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương.

           Thứ năm, do luật pháp quy định chưa chặt chẽ, còn có những khoảng trống pháp lý cộng thêm chế tài chưa đủ mạnh nên chưa có tác dụng răn đe và ngăn chặn tín dụng đen phát triển.

           Giải pháp đẩy lùi tín dụng đen

           Từ thực trạng tín dụng đen thời gian qua, cần thiết phải đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả và khả năng phổ cập của hệ thống tài chính quốc gia. Rõ ràng là các tổ chức tài chính Việt Nam đã chưa thể đảm đương được vai trò cung cấp vốn cho nhu cầu của xã hội. Điều này cũng được chứng minh trong báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015-2016, một trong các lĩnh vực mà Việt Nam được đánh giá thấp là phát triển thị trường tài chính, xếp hạng 84/140 nền kinh tế trong toàn cầu (Vương Đình Huệ, 2016). Cũng theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), số người trưởng thành ở Việt Nam có tài khoản và sử dụng dịch vụ tài chính tại Việt Nam còn quá thấp, chiếm khoảng 31% năm 2013, trong khi trung bình thế giới là 62%. Riêng tỷ lệ dân cư vay vốn tại các tổ chức tín dụng chính thức thấp hơn, chỉ khoảng 18%. Trên cơ sở kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, để đẩy lùi tình trạng tín dụng đen tại Việt Nam, tác giả đề xuất hai giải pháp chính:

           Một là, thực hiện chiến lược phổ cập tài chính quốc gia trong thời gian tới.

           Mục tiêu của chiến lược phổ cập tài chính quốc gia là giáo dục kiến thức tài chính cho người dân từ chỗ biết (knowing) đến hiểu (understanding) tiến tới thay đổi hành vi (changing behavior) sử dụng các dịch vụ sản phẩm tài chính trên thị trường chính thức. Phổ cập tài chính là biện pháp hàng đầu trong việc đẩy lùi tín dụng đen. Theo kết quả khảo sát thực hiện tại vùng Tây Nam bộ trong năm 2013, trong số những người tham gia vào các hoạt động tín dụng phi chính thức như họ/hụi, có tới 62,1% là nông dân và người mua bán nhỏ, trình độ học vấn trung bình ở mức trung học cơ sở (lớp 9), số người là cán bộ viên chức, có trình độ tốt nghiệp phổ thông trung học rất ít (Lê Khương Ninh, 2013). Các nghiên cứu gần đây tại các nước đang phát triển cũng chỉ ra rằng người dân càng có mức độ hiểu biết tài chính thấp thì càng có xu hướng tìm đến các hình thức tín dụng phi chính thức nhiều hơn. Do vậy, tại nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn độ, Nga, Bangladesh, Indonesia, Mexico... Chính phủ đều đã xúc tiến thực hiện chiến lược phổ cập tài chính quốc gia, thông qua đó giáo dục kiến thức về tài chính cho dân chúng (WB, 2013). Nếu người dân có hiểu biết tài chính họ sẽ ý thức được những rủi ro mà họ sẽ phải đối mặt khi tham gia vào các hình thức tín dụng phi chính thức, trên cơ sở đó biết lựa chọn sản phẩm dịch vụ thích hợp, bảo vệ quyền lợi cho bản thân và gia đình.

           Chiến lược phổ cập tài chính quốc gia phải do Chính phủ khởi xướng, nhưng để chiến lược này đi vào thực tế, đòi hỏi phải có sự tham gia phối hợp đồng bộ của nhiều chủ thể, thông qua nhiều cách thức đa dạng. Các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, sách báo, tạp chí cần đẩy mạnh tuyên truyền phổ cập kiến thức tài chính căn bản cho người dân. Có thể thiết kế các chuyên đề nói chuyện, hội thảo thích hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau. Đối với các tổ chức tài chính cần đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu sản phẩm dịch vụ tài chính tới người dân bằng nhiều kênh đa dạng, phải cho dân biết lợi ích thì mới khuyến khích họ tham gia vào thị trường tài chính chính thức. Các chính quyền, tổ chức đoàn thể, xã hội tại địa phương cần phải mở lớp hướng dẫn tư vấn về các kiến thức tài chính như thiết lập ngân sách cá nhân/gia đình, quản lý dòng tiền vào/ra, cách lập và chi tiêu theo kế hoạch... Các hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần tuyên truyền, phân tích lợi/hại để người dân có ý thức tự bảo vệ, không tham gia vào các hình thức tín dụng phi chính thức tiềm ẩn nhiều rủi ro.

           Hai là, phát triển sâu rộng tín dụng vi mô trên cơ sở tổ chức lại và hợp thức hóa hoạt động họ/hụi tại các địa phương trong toàn quốc.

           Biện pháp căn cơ nhất để đẩy lùi nạn tín dụng đen là đẩy mạnh tín dụng vi mô, loại hình tín dụng thích hợp với người nghèo, người có thu nhập thấp. Với tỷ lệ trên 70% dân số sống tại các vùng nông thôn Việt Nam, có thể thấy thị trường tín dụng cho các tổ chức tài chính vi mô thâm nhập là rất rộng lớn. Thời gian qua, ngân hàng chính sách xã hội, quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô cùng tham gia cung cấp tín dụng cho thị trường nông thôn. Tuy nhiên, có sự khác biệt về đối tượng, hình thức, quy mô, điều kiện cấp tín dụng, nguồn hình thành quỹ giữa các tổ chức này. Quan sát trên bảng so sánh, nhận thấy với các đặc điểm riêng có, rõ ràng tín dụng vi mô có tính phổ cập cao hơn, dễ tiếp cận hơn so với các hình thức tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ tín dụng nhân dân. Do vậy, tín dụng vi mô là phương tiện hữu hiệu nhất để cho đại bộ phận người dân ở các vùng nông thôn, hẻo lánh có thể tiếp cận được với khu vực tín dụng chính thức và bán chính thức.

           Để đẩy lùi nạn tín dụng đen biến tướng từ họ/hụi, cần phát triển tín dụng vi mô trên cơ sở hợp thức hóa các hoạt động họ/hụi đang tồn tại ở các địa phương trong toàn quốc. Cơ sở pháp lý cho đề xuất này là do pháp luật đã công nhận sự tồn tại hợp pháp của họ/hụi trong Bộ luật Dân sự và Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên, để áp dụng trong thực tiễn, cần cụ thể hóa các điều luật này bằng các văn bản dưới luật thông qua việc chính thức cho phép đường dây họ/hụi đăng ký hoạt động tại địa bàn cụ thể theo các quy định của pháp luật.

           Đồng thời, để dễ dàng kiểm soát, các đường dây họ/hụi nên được tổ chức thành các vệ tinh/đại lý của tổ chức tài chính vi mô địa phương. Làm như vậy một mặt tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vi mô tận dụng mạng lưới khách hàng sẵn có, giải quyết bài toán hạn hẹp về nguồn quỹ hoạt động, mặt khác đưa các hoạt động họ/hụi đang tồn tại ở địa phương vào khuôn khổ, tránh các biến tướng xấu như trong thời gian qua. Khó khăn lớn nhất là lâu nay các đường dây này hoạt động tự do, không chịu bất kỳ sự kiểm soát nào, nên không dễ dàng chấp nhận làm vệ tinh của tổ chức tài chính vi mô.

           Vì vậy, cần tăng cường tuyên truyền cho người dân đang tham gia vào các đường dây này hiểu rằng Nhà nước công nhận sự tồn tại hợp pháp của họ/hụi nhưng phải tuân thủ quy định pháp luật, để tránh rủi ro, tự bảo vệ quyền lợi của bản thân. Bên cạnh đó, vận động các chủ hụi tự nguyện tham gia với vai trò thành viên hoặc cộng tác viên cho tổ chức tài chính vi mô địa phương. Tổ chức tài chính vi mô địa phương cần nghiên cứu kỹ các hình thức tổ chức họ/hụi quy định trong Nghị định 144/2006/NĐ-CP, kết hợp với tìm hiểu cách thức tổ chức các loại họ/hụi trong thực tế địa phương để vận dụng cho thích hợp. Trong đó, cần quan tâm đến lãi suất vì đây là yếu tố chính thu hút người dân tham gia. Lãi suất cần áp dụng theo mức cao nhất cho phép trong luật là 20%/năm (Điều 468 Bộ luật dân sự 91/2015/QH13), xóa bỏ quan niệm lãi suất trong tín dụng vi mô thường thấp do mang ý nghĩa tài trợ của Nhà nước.


Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay


Theo Nghị quyết, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương kiên định thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô để có nền tảng tăng trưởng cao trong dài hạn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống, chất lượng sống cho người dân, quyết tâm phấn đấu đạt tăng trưởng GDP khoảng 6,7% và kiểm soát lạm phát dưới 5%.


Đồng thời, tích cực thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/1/2016, các Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ từ đầu năm đến nay và Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020.


Các Bộ, ngành, địa phương tích cực khai thác thế mạnh, tiềm năng của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa bàn, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển; tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế và các đề án tái cơ cấu ngành, lĩnh vực trọng tâm...


Với NHNN Việt Nam, Chính phủ yêu cầu theo dõi sát diễn biến thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và quốc tế, điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, ổn định mặt bằng lãi suất, giảm lãi suất cho vay.


Đồng thời tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là nông nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khoa học công nghệ... gắn với nâng cao chất lượng tín dụng.


Bên cạnh đó, đánh giá tình hình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu giai đoạn 2011 - 2015; xây dựng Đề án tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020, trong đó chú trọng đẩy mạnh xử lý thực chất nợ xấu qua Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).


Chính phủ cũng yêu cầu rà soát, sửa đổi Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phù hợp với điều kiện thực tế.


Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

Tương lai là hoạt động của ngân hàng xanh


Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đã và đang hướng tới phát triển bền vững. Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 1393/QĐ -TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. Có lẽ nhiều người nghĩ rằng, tăng trưởng xanh chỉ liên quan tới các lĩnh vực, ngành nghề hoạt động liên quan tới môi trường.


Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế thì, tăng trưởng xanh không loại trừ trách nhiệm của ngành, nghề nào. Trong đó, với ngành NH thì những cụm từ như NH xanh, tín dụng xanh thường được nhắc tới trong thời gian gần đây.


Theo Ths. Nguyễn Trung Hiếu - Đại học NH TP. Hồ Chí Minh, NH xanh được hiểu theo nghĩa rộng là NH bền vững. Để phát triển bền vững thì NH phải bảo đảm có sự gia tăng về lợi nhuận, tác động gìn giữ và bảo vệ môi trường… Vì thế mọi hoạt động của NH cần đặt mục tiêu hướng tới lợi ích của người tiêu dùng, kinh tế, xã hội và môi trường.


Còn theo nghĩa hẹp, NH xanh chỉ các hoạt động nghiệp vụ của NH khuyến khích các hoạt động vì môi trường và giảm thải carbon. Việc áp dụng hệ thống NH xanh được chú trọng trong thời gian gần đây khi NHNN đã ban hành Chỉ thị 03/CT-NHNN năm 2015 về việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng của ngành NH.


Đặc biệt, NHNN yêu cầu các TCTD rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế tín dụng cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh đã thúc đẩy các NHTM thực hiện một số hoạt động về NH xanh.


Theo các chuyên gia NH, để đẩy mạnh hoạt động NH theo mô hình NH xanh, thời gian tới, các NH cần có những chiến lược cụ thể:


Một là, chuyển đổi hoạt động sang sử dụng nền tảng công nghệ hiện đại. Áp dụng công nghệ trong việc quản lý dữ liệu thông tin giúp hạn chế nguồn nhân lực và đầu tư cơ sở hạ tầng. Việc khuyến khích khách hàng sử dụng NH điện tử, giúp loại bỏ lãng phí giấy, tiết kiệm nhiên liệu, giảm chi phí in ấn, giảm phát thải carbon.


Hai là, triển khai xây dựng trụ sở xanh. Việc xây dựng trụ sở xanh, giúp nâng cao nhận thức của khách hàng về hoạt động NH xanh, bên cạnh đó, giúp nâng cao hình ảnh thương hiệu của NH, tăng lợi thế cạnh tranh.


Ba là, hướng tới cung cấp thẻ tín dụng xanh. Nhiều NH tại châu Âu đã đồng loạt áp dụng phát hành các loại thẻ NH tự phân hủy sau ít năm trong một số môi trường và có thể tiêu hủy công nghiệp và tái chế.


Bốn là, xây dựng các kênh thanh toán xanh, khách hàng có thể trực tiếp đi đến quầy ATM, sử dụng thẻ nộp tiền để gửi tiền và rút tiền cùng một lúc mà khách hàng không cần phải điền vào các phiếu rút tiền và tiền gửi. Năm là, cung cấp các sản phẩm tài chính ưu đãi cho các dự án, khoản vay mua nhà, xe thân thiện môi trường.


Để thực hiện mục tiêu thúc đẩy tín dụng xanh, các NHTMCP cần thực hiện xanh hóa các danh mục đầu tư bằng cách gia tăng tài trợ tín dụng cho DN có nhu cầu đổi mới trang thiết bị, công nghệ giúp tiết kiệm năng lượng, xử lý chất thải hay các DN hoạt động thân thiện với môi trường. Với việc các NH dần ý thức được tầm quan trọng của lĩnh vực kinh tế xanh, thì tương lai sẽ là của NH xanh.


Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016

Brexit tác động gì đến châu Á?


Trung Quốc sẽ rất thất vọng với Brexit vì Thủ tướng Lý Khắc Cường đặc biệt quan tâm đến Vương quốc Anh. Mùa thu năm 2015, London trở thành trung tâm tài chính quốc tế đầu tiên phát hành nợ bằng nhân dân tệ sau chuyến thăm Anh của Chủ tịch Tập Cận Bình.

Brexit là một bước lùi cho nỗ lực quốc tế hóa nhân dân tệ khi ý nghĩa của trung tâm tài chính toàn cầu của London bị thu hẹp lại.

Brexit cũng đánh dấu thất bại cho mục tiêu dài hơi của Bắc Kinh về một thỏa thuận thương mại tự do (FTA) với EU.

Anh là một trong những nước vận động cho một FTA gắn kết Trung Quốc với EU. Nay Anh rút khỏi EU, xem ra sẽ không có quốc gia lớn nào trong EU muốn đạt thỏa thuận với Bắc Kinh.

Brexit tác động gì đến châu Á? - 1

Biểu tình tại Westminster (thủ đô London) kêu gọi tổ chức cuộc trưng cầu ý dân thứ hai

Trung Quốc sẽ chỉ có thể đạt được một FTA với London nếu như người kế nhiệm Thủ tướng Anh David Cameron cũng theo chủ trương chơi với Trung Quốc của ông. Nhưng điều này sẽ không có cùng lợi ích kinh tế cho Trung Quốc.

Đối với Nhật, có thể nói Brexit là thảm họa và sẽ mang đến một năm tệ hại cho Thủ tướng Shinzo Abe và Thống đốc Ngân hàng Nhật Haruhiko Kuroda.
Hậu quả của Brexit là đồng bảng Anh mất giá trầm trọng, đồng yen tăng giá đáng kể nhưng lại là thách thức cho chương trình kinh tế kiểu Abe (Abenomic).

Trong năm nay, Thống đốc Haruhiko Kuroda đã chọn chủ trương tiền tệ mang tính đột phá, áp dụng lãi suất thấp. Vì thế, các chọn lựa tiền tệ của Nhật bị trói tay.

Giải pháp duy nhất hiện nay là nhờ nước ngoài can thiệp, điều mà Mỹ đã cảnh báo là chớ nên thực hiện.

Ở Nam Á, Ấn Độ phản ứng cẩn trọng trước Brexit. Ấn Độ có tỉ lệ tăng trưởng ấn tượng, tiếp tục là nền kinh tế mới nổi có thể thỏa mãn các nhà đầu tư.

Tuy nhiên, mối đe dọa phải tăng lãi suất của thế giới, nhất là việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ liên tục tăng lãi suất  khiến đà tăng trưởng của Ấn Độ có thể chậm lại.

Ở Đông Nam Á và châu Đại Dương, Brexit là diễn biến đáng lo ngại, có thể góp phần vào sự bất an và bất ổn tài chính nhưng cũng có thể đem lại nhiều cơ hội.

Anh xuất khẩu khoảng 15 tỉ USD đến thị trường Đông Nam Á. Đồng bảng Anh mất giá có thể giúp các nền kinh tế khu vực này tận dụng cơ hội. Malaysia đã tỏ ý sẵn sàng đàm phán thỏa thuận thương mại tự do với nước Anh thời hậu Brexit.

Trong khi đó, Úc giữ thái độ bình tĩnh. Thủ tướng Turnbull cho biết ông nghĩ nền kinh tế Úc sẽ tránh được tác động nghiêm trọng từ cú sốc tài chính do Brexit gây ra. Ông nói: Điều quan trọng nên nhớ là kinh tế Úc mạnh và linh động, đã dự báo trước những cú sốc cấp toàn cầu và dự báo tốt.

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

Ưu tiên tín dụng xanh, áp dụng công nghệ hiện đại


Đây là một trong những sự kiện nằm trong Diễn đàn hợp tác kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) năm 2016, được tổ chức từ ngày 11/7 đến 15/7/2015.

Tại Hội thảo, các chuyên gia cho rằng, bên cạnh nguồn vốn tín dụng NH thì trong bối cảnh hội nhập và tái cấu trúc nền kinh tế nông nghiệp cộng với tác động của biến đổi khí hậu diễn ra liên tục thì trong các năm tới, Chính phủ cần tạo ra các cơ chế tài chính xanh để dành nguồn ngân sách phục vụ cho tăng trưởng và phát triển vùng ĐBSCL.

Để làm được việc này cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng về nhu cầu đầu tư cũng như tạo ra một hệ thống liên kết vùng trong hoạt động quản lý, giám sát vốn ngân sách phù hợp.

Cũng tại Hội thảo, các NHTM trên địa bàn các tỉnh ĐBSCL đã tiến hành ký kết các hợp đồng tín dụng với các DN để đầu tư cho 73 dự án thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL với tổng số tiền cam kết cho vay gần 28.500 tỷ đồng.

Tiếp thu những ý kiến đóng góp tại Hội thảo, Phó Thống đốc Đào Minh Tú khẳng định, trong thời gian tới, với nhiệm vụ của mình, NHNN sẽ tiếp tục xây dựng chính sách phù hợp, chỉ đạo các TCTD thực hiện một số giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, ngành NH tiếp tục đảm bảo cân đối nguồn vốn cho vay khu vực ĐBSCL. Tuy nhiên, nguồn vốn phải đưa vào những dự án hiệu quả. Trong điều kiện nguồn lực tài chính của các DN còn khó khăn, vốn NH sẽ tiếp tục hỗ trợ, giúp DN phát triển.

Thứ hai, ngành NH sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho DN, hỗ trợ DN thực hiện nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập theo tinh thần Nghị quyết 19 và Nghị quyết 35 của Chính phủ.

Hiện NHNN mới ban hành chương trình hành động triển khai 2 Nghị quyết trên, trong đó quyết liệt cải cách thủ tục hành chính. Mặc dù các NHTM không phải cơ quan quản lý Nhà nước, nhưng trong quan hệ với người dân và DN thì thủ tục cho vay cũng có thể được xem như tính chất hành chính. Do đó, ngoài sản phẩm dịch vụ tốt, NH phải tạo thuận lợi về thủ tục trong việc cho vay vốn. Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục triển khai quyết liệt nhiệm vụ này.

Thứ ba, tất cả các chương trình chính sách tín dụng đã và đang thực hiện ở ĐBSCL sẽ được tiếp tục được triển khai tích cực nhất. Ví dụ, chương trình cho vay liên kết, sau 2 năm sẽ được ngành NH sơ kết lại, rút kinh nghiệm, hoàn thiện thêm thể chế, tiếp tục hướng dẫn thêm để tiếp tục mở rộng chương trình này.

Những chương trình khác như tín dụng xanh, áp dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất, nuôi trồng thủy hải sản, tín dụng cho du lịch, tín dụng hạ tầng cơ sở sẽ được quan tâm thời gian tới.

Thứ tư, với tín dụng chính sách, NHNN đang chỉ đạo NHCSXH tích cực cho vay vốn khu vực ĐBSCL. Phải gắn kết với tín dụng thương mại theo hướng sau khi vay vốn NHCSXH thoát nghèo thì người dân chuyển sang vay vốn NHTM để có thể mở rộng sản xuất, thoát nghèo bền vững.

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2016

Tài trợ mua xe ôtô

Phạm vi áp dụng

- Có khả năng tài chính và phương án trả nợ khả thi

- Có trụ sở chính trên địa bàn hoạt động của chi nhánh của chúng tôi nhận hồ sơ

- Ô tô mua có nguồn gốc hợp pháp, mới 100%, chưa đăng ký lưu hành và được sản xuất trước đó không quá 2 năm kể từ thời điểm vay vốn

Tiện ích sản phẩm

- Mức cho vay cao, lên đến 70% giá trị hợp đồng mua xe

- Thời hạn vay dài, tối đa 48 tháng

- Thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện, thời gian xét duyệt hồ sơ tối đa 3 ngày

- Lãi suất cạnh tranh, tiền lãi thấp nhất với phương pháp tính lãi theo dư nợ và số ngày vay vốn thực tế

- Tài sản đảm bảo bằng chính chiếc xe dự định mua hoặc tài sản khác

- Phương thức trả nợ linh hoạt: Theo niên kim hoặc theo định kỳ

- Giải pháp trọn gói với các giá trị gia tăng phù hợp nhu cầu của Khách hàng như: Bảo hiểm ô tô, bảo hiểm tài sản, tư vấn tài chính,…

Hồ sơ đăng ký

- Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, mã số thuế

- Quyết định bổ nhiệm (Tổng) Giám đốc, Kế toán trưởng

- Điều lệ hoạt động của công ty

- Biên bản họp HĐQT/HĐTV về việc nhất trí mua xe ô tô

- Báo cáo tài chính 02 năm gần nhất

- Hợp đồng mua bán, hồ sơ về chiếc xe mua, chứng từ nộp tiền

Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ Vay thế chấp vay vốn ngân hàng ,  vay tiền ngân hàng thủ tục đơn giản nhanh chóng, tỷ lệ xét duyệt hồ sơ trúng cao.

Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp qua số hotline: 0919 97 97 80

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

Mặt bằng lãi suất, tỷ giá ổn định


Một trong những kết quả nổi bật là việc điều hành cung tiền hợp lý đã tạo điều kiện để ổn định mặt bằng lãi suất và phấn đấu giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ ổn định tỷ giá và việc phát hành TPCP, tăng dự trữ ngoại hối nhà nước nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát lạm phát.

Theo đó, NHNN điều tiết chủ yếu thông qua điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD, cũng như thực hiện mua ngoại tệ khi thuận lợi, qua đó duy trì dư thừa thanh khoản của hệ thống, tạo điều kiện ổn định mặt bằng lãi suất và giảm lãi suất cho vay khi có điều kiện; đồng thời hỗ trợ cho phát hành thành công TPCP. Bên cạnh đó, NHNN cũng chủ động hút tiền về qua phát hành tín phiếu kỳ hạn ngắn khi cần thiết để hỗ trợ ổn định tỷ giá nhưng không ảnh hưởng đến mục tiêu điều hành lãi suất.

"Nhìn chung đến nay, các chỉ tiêu tiền tệ diễn biến phù hợp với các giải pháp điều hành của NHNN. Thanh khoản của hệ thống tiếp tục được đảm bảo và có dư thừa, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng giảm so với cuối năm trước", NHNN cho biết.

Một trong những kết quả rất đáng ghi nhận nữa là mặc dù có áp lực tăng nhưng với việc thực hiện linh hoạt các giải pháp điều hành của NHNN, mặt bằng lãi suất huy động được giữ ổn định, qua đó giảm sức ép lên lãi suất cho vay của các TCTD trong điều kiện lạm phát có xu hướng tăng nhanh.

Trên cơ sở diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, lạm phát, NHNN duy trì ổn định các mức lãi suất điều hành, thông qua các công cụ CSTT để đảm bảo thanh khoản đưa mặt bằng lãi suất liên ngân hàng ở mức thấp, tạo điều kiện cho các TCTD giữ ổn định lãi suất huy động.

Bên cạnh đó, từ cuối tháng 5/2016, NHNN đã chỉ đạo các TCTD thực hiện các biện pháp cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn duy trì ổn định lãi suất huy động, tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay.

NHNN cũng đã ban hành thông tư sửa đổi quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, trong đó điều chỉnh tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn giảm dần theo lộ trình nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản, đã góp phần hỗ trợ giảm áp lực lãi suất cho các TCTD từ nay đến cuối năm.

Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp, mặt bằng lãi suất huy động sau khi tăng khoảng 0,2-0,3%/năm trong 3 tháng đầu năm thì đã được một số TCTD điều chỉnh giảm và mặt bằng lãi suất về cơ bản tiếp tục diễn biến ổn định. Đối với lãi suất cho vay, mặc dù lãi suất huy động tăng nhẹ trong những tháng đầu năm, nhưng mặt bằng lãi suất cho vay của các TCTD vẫn tương đối ổn định.

Đặc biệt, từ cuối tháng 4/2016, thực hiện chủ trương của Chính phủ và NHNN về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, các NHTM nhà nước và một số NHTMCP đã điều chỉnh giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn và đưa lãi suất cho vay trung và dài hạn về tối đa 10%/năm đối với các khách hàng vay vốn phục vụ SXKD, đồng thời tích cực triển khai các chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi.

Liên quan đến việc điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối, NHNN Việt Nam cho biết, với việc điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt trên cơ sở bám sát diễn biến cung - cầu ngoại tệ trong nước, thị trường tài chính thế giới, phù hợp với mục tiêu CSTT và thực hiện  đồng bộ các công cụ để hỗ trợ tỷ giá khi cần thiết, thị trường ngoại tệ từ đầu năm đến nay diễn biến tích cực.

Cơ chế điều hành tỷ giá mới đã khẳng định tính hiệu quả và vai trò của mình qua sự cố Brexit mới đây khi mà ngày 24/6, mặc dù thị trường tài chính thế giới biến động mạnh do sự kiện Brexit nhưng tỷ giá USD/VND chỉ tăng nhẹ do tác động tâm lý.

Hiện tỷ giá USD/VND giao dịch trên thị trường liên ngân hàng giảm và tương đối ổn định trên mặt bằng mới quanh tỷ giá mua ngoại tệ của NHNN (22.300 VND/USD), thấp hơn khoảng 0,8% so với cuối năm 2015 và thấp xa so với tỷ giá trần.

"Thanh khoản thị trường tốt, nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của khách hàng được đáp ứng đầy đủ. Tâm lý găm giữ ngoại tệ giảm, hệ thống TCTD mua ròng ngoại tệ từ nền kinh tế, nhờ đó, NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước", NHNN Việt Nam thông tin.

Về định hướng điều hành CSTT những tháng cuối năm, NHNN Việt Nam cho biết sẽ bám sát chủ trương của Quốc hội, Chính phủ, nhiệm vụ của ngành Ngân hàng tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 27/01/2015, Chỉ thị số 04/CT-NHNN ngày 27/5/2016 để tiếp tục điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhưng không chủ quan với diễn biến của lạm phát.

Trong đó tập trung thực hiện các giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ và hoạt động ngân hàng để điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT; điều tiết chủ yếu thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn với thời hạn, khối lượng và lãi suất hợp lý để hỗ trợ thanh khoản và nguồn vốn cho các TCTD nhưng đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát. Tiếp tục chỉ đạo các TCTD thực hiện các biện pháp cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn duy trì ổn định lãi suất huy động, tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay.

Thứ hai, kiểm soát tăng trưởng tín dụng của hệ thống TCTD đảm bảo an toàn, hiệu quả; tập trung tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, nhất là các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khởi sự doanh nghiệp; kiểm soát tín dụng ở một số ngành, lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; thực hiện các giải pháp tạo điều kiện trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng.

Thứ ba, tiếp tục công bố tỷ giá trung tâm hằng ngày phù hợp với mục tiêu điều hành CSTT, thực hiện các giải pháp nhằm ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ. Triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả thị trường ngoại hối, đảm bảo phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chống đô la hóa của Chính phủ.

Thứ tư, tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, theo dõi sát diễn biến thị trường, vốn khả dụng của các TCTD, kế hoạch phát hành, giải ngân TPCP để chủ động, kịp thời trong điều hành CSTT.

Theo thoibaonganhang.vn

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2016

Quản lý đồng tiền



Quản lý tài khoản tập trung:   

Với dịch vụ này, chúng tôi giúp Quý Khách hàng là các Tập đoàn, Tổng công ty, các Công ty có hệ thống đại lý bán hàng rộng khắp trên toàn quốc có nhu cầu tập trung vốn về Tổng công ty/ Tập đoàn hoặc phân tách vốn cho các công ty con nhanh chóng, kịp thời. Theo đó, chúng tôi thực hiện quản lý một tài khoản chính và nhiều tài khoản phụ bằng việc duy trì số dư đầu ngày và cuối ngày tự động theo yêu cầu của Quý Doanh nghiệp, khi đó hệ thống sẽ tự động tập trung số dư từ nhiều tài khoản phụ về tài khoản chính hoặc trích số dư từ tài khoản chính về các tài khoản phụ. Số dư trên tài khoản được hưởng lãi suất sinh lời tối ưu.

Quản lý các khoản phải trả:

- Chi hộ tiền mặt;

- Thanh toán hóa đơn;

- Trả lương qua tài khoản.

Quản lý các khoản phải thu:

- Thu hộ tiền mặt;

- Thu tiền hóa đơn… 

- Tiện ích sản phẩm

Quản lý tài khoản tập trung:

- Tập trung các quỹ vào một nơi nhất định để tăng cao kiểm soát

- Giảm chi phí quản lý các tài khoản khác nhau

- Nâng cao kiểm soát và sắp xếp hợp lý quản lý thanh khoản của Doanh nghiệp

- Tự động tập trung nguồn tiền nhàn rỗi từ các tài khoản phụ vào một tài khoản chính

- Dùng tiền nhàn rỗi để gửi tiết kiệm nhằm tối ưu hóa lợi nhuận

- Khách hàng được chúng tôi hỗ trợ giải quyết các nhu cầu vốn tạm thời thông qua tiện ích thấu chi tài khoản chính/ tài khoản phụ

- Các tiện ích gia tăng khác: Internet Banking, SMS Banking, Mobile Banking

Quản lý các khoản phải trả:

- Tiết kiệm thời gian và nguồn lực

- Thanh toán đúng hạn để tạo uy tín với đối tác

- Giảm thiểu rủi ro giao dịch tiền mặt

Quản lý các khoản phải thu:

- Thu tiền hàng hóa/dịch vụ nhanh chóng

- Dễ dàng theo dõi những dữ liệu thu nợ thông qua Internet Banking

- Công nghệ hiện đại, tự động hóa trong thu chi và Quản lý tài khoản.


Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

Cho vay mua nhà đáp ứng 85% nhu cầu vay vốn

       
Vừa qua, chúng tôi ra mắt sản phẩm Cho vay mua nhà với các tiện ích hấp dẫn:

  • Cho vay để mua bất động sản, xây dựng/sửa chữa nhà ở cho cá nhân hoặc cho người thân.

  • Chấp nhận cho vay bù đắp số tiền đã vay của người thân để mua bất động sản, xây dựng/sửa chữa nhà.

  • Chấp nhận nguồn trả nợ từ người thân của khách hàng vay vốn

  • Mức cho vay cao, tới 85% tổng nhu cầu vốn.

  • Thời hạn vay vốn dài, lên đến 20 năm. 

  • Phương thức giải ngân linh hoạt. 

  • Chấp nhận bất động sản hình thành từ vốn vay là tài sản đảm bảo cho khoản vay.     

Đặc tính sản phẩm

  • Đối tượng vay vốn: Khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn mua bất động sản, xây dựng/sửa chữa nhà ở.

  • Loại tiền: VND

  • Phương thức trả nợ: Trả gốc định kỳ, tối đa 3 tháng/lần; Trả lãi định kỳ hàng tháng.

  • Điều kiện vay vốn: Khách hàng có hộ khẩu thường trú, KT3 tại địa bàn của chúng tôi hoặc tại tỉnh/thành phố giáp ranh với địa bàn ; Có khả năng tài chính và phương án trả nợ khả thi; Có tài sản bảo đảm hợp pháp để bảo đảm cho khoản vay. 

  • Tài sản đảm bảo: Bất động sản, ô tô, giấy tờ có giá.